Đang truy cập: Trang chủ TIN TỨC NỘI BỘ Thông báo - công văn Những tham luận tại hội nghị cán bộ - giáo viên - nhân viên trường TH. THCS & THPT Văn Lang

Những tham luận tại hội nghị cán bộ - giáo viên - nhân viên trường TH. THCS & THPT Văn Lang

Email In PDF.

THAM LUẬN 1

 MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC THỰC HIỆN CÁC KẾ HOẠCH CỦA NHÀ TRƯỜNG

Đặt vấn đề:

                Trường TH,THCS&THPT Văn Lang  là trường phổ thông có nhiều cấp học, bao gồm cả 3 cấp học phổ thông hiện nay, đó là: cấp Tiểu học; cấp THCS và cấp THPT. Trong 1 năm học, Nhà trường đồng thời phải đón nhận và thực hiện rất nhiều các văn bản chỉ đạo của cả 3 cấp học nói trên, cộng thêm các văn bản chỉ đạo của HĐQT, Giám đốc Công ty.  Do đó, lưu lượng thực hiện các văn bản đến và đi của nhà trường thường nhiều hơngấp 3 đến 4 lần các trường phổ thông khác có 1 cấp học. Đây là một khối lượng công việc khổng lồ của tập thể nhà trường (đặc biệt là các đồng chí lãnh đạo) phải thực hiện trong thời gian qua. Để thực hiện tốt các công văn chỉ đạo của cấp trên, thì việc lập kế hoạch, thực hiện kế hoạch và kiểm tra đánh giá công tác thực hiện kế hoạch là rất quan trọng.

 

                Để thực hiện tốt phần công việc của mình và chia sẻ một phần khối lượng công việc với lãnh đạo nhà trường trong việc thực hiện các kế hoạch, tôi xin đóng góp “một số biện pháp để nâng cao hiệu quả trong việc thực hiện kế hoạch của nhà trường”.

Thuận lợi, khó khăn

- Về thuận lợi: Cán bộ, GV, NV của nhà trường thực hành và áp dụng CNTT tốt; tiếp cận rất nhanh và quen với khối lượng các công việc lớn thông qua thực hiện các kế hoạch của nhà trường.

- Về khó khăn:

+ Do nhà trường có nhiều cấp học, nên trong cùng 1 thời điểm, có nhiều kế hoạch triển khai nhiệm vụ, tạo áp lực rất lớn cho người thực hiện.

+ Áp lực về thời gian thực hiện hạn hẹp (đa phần GV phải dạy học và công tác cả buổi sáng lẫn chiều).

Thực trạng:

Như chúng ta đã biết, để thực hiện tốt nhiệm vụ, thì việc lập kế hoạch rất quan trọng. Thực tế, trong thời gian vừa qua, việc lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch đã được nhà trường thực hiện rất bài bản và chi tiết.

VD: Kế hoạch tổ chức khai giảng năm học 2013-2014 vừa qua, bao gồm 5 đó là kế hoạch tổng thể + 4 kế hoạch của các tiểu ban (nội dung, CSVC, lễ tân, trò chơi -văn nghệ, ANTT); Kế hoạch kiểm tra khảo sát cũng gồm 4 kế hoạch (kế hoạch tổng thể + 3 kế hoạch con của 3 khối TH, THCS và THPT). Các công việc khác cũng tương tự như vậy.

Các kế hoạch triển khai nhiệm vụ của nhà trường đều được lập sớm, triển khai tới các bộ phận,dán tại các hệ thống các bảng tin của nhà trường, nên rất thuận lợi cho việc cập nhật thông tin và các tập thể, cá nhân có liên quan căn cứ nhiệm vụ để thực hiện.

Tuy nhiên, bên cạnh mặt ưu điểm thì cách thực hiện này còn bộc lộ một số tồn tại như sau:

Một là: Hệ thống kế hoạch nhiều, tạo hiệu ứng “loãng” về mặt thông tin cho người thực hiện.

Hai là: Hệ thống bảng tin của nhà trường còn ít, bố trí đôi khi chưa hợp lí, gây khó khăn cho việc tìm thông tin của GV, NV.

Ba là: Một số ít các đ/c GV,NV chưa  tạo được thói quen xem thông báo trên các bảng tin, nên việc thực hiện kế hoạch còn chậm, phải nhắc nhở nhiều lần.

Bốn là: Do hệ thống kế hoạch nhiều, tốn kém về công in ấn, giấy phô tô tài liệu.

Giải pháp

Để thực hiện tốt các kế hoạch của nhà trường, tôi xin đề xuất một số giải pháp sau:

4.1.Từ đầu năm, nhà trường và các đoàn thể nên dự kiến hệ thống các kế hoạch cần phải có trong năm, để CB,GV,NV dễ dàng hình dung khối lượng công việc và sắp xếp kế hoạch thời gian hợp lí để thực hiện.

                a. Các kế hoạch chuyên môn:

                1. Kế hoạch năm học;

                2. Kế hoạch dạy học 2 buổi/ngày

                3. KH khải giảng; KH tổ chức HN CB,GV,NV; KH sơ kết, tổng kết.

4. KH kiểm tra khảo sát, KT học kì 1, kì 2; KH vào điểm

5. KH thực hiện các chuyên đề.

6. KH giám định GVG cấp cơ sở, cấp trường; KH thao giảng, dự giờ

7. KH làm đồ dùng dạy học và viết SKKN.

8. KH bồi dững thường xuyên; KH đổ mới phương pháp dạy học.

9. KH dạy thêm, học thêm.

10. KH tổ chức các phong trào thi đua

11. KH kiểm tra hồ sơ CM

12. KH thi TN THPT, xét TN, ôn thi ĐH; KH hè hàng năm...

b. Kế hoạch của Công đoàn

1. KH thực hiện theo chương trình của năm học.

2. KH thi đua tổng thể; KH thi đua từng tháng;

3. KH thực hiện phong trào thi đua của ngành.

4. KH tổ chức kỉ niệm các ngày lễ: 20/10; 20/11; 8/3…

5. KH kiểm tra, giám sát

6. KH khen thưởng con CB,GV,NV.

c. Kế hoạch Đoàn, Đội

1. KH trung thu; 20/11; 22/12; 9/1; 3/2; 26/3; 19/5.

2. KH thi đua tổng thể, thi đua theo tháng, tuần…

3. KH đại hội nhiệm kì.

4. KH thực hiện các phong trào thi đua theo chủ điểm…

4.1. Xây dựng thói quen trong GV, NV về việc cập nhận các thông tin trên hệ thống bảng tin của nhà trường (đầu tuần, giữa tuần, cuối tuần) để kịp thời nắm bắt thông tin và thực hiện tốt các nhiệm vụ của mình.

4.2. Bố trí lại hệ thông các bảng tin của nhà trường tại phòng chờ của GV để thuận lợi cho GV, nhân viên tìm hiểu các thông tin cần thiết:

+ Hệ thống bảng tin về kế hoạch chuyên môn gồm 3 bảng riêng của  khối TH, THCS và THPT;

+ Hệ thống bảng tin về các kế hoạch của đoàn thể gồm 3 bảng  của Công đoàn, Đoàn TN, Đội TN;

+ Bố trí 1 bảng tin nhỏ để thông báo các kế hoạch đột xuất, cấp thiết.

4.3. Nên tích hợp một số kế hoạch nhỏ vào kế hoạch tổng thể và chuyển kế hoạch qua email cá nhân, tải lên webside của trường để thuận tiện cho công tác truy cập và tiết kiệm công in ấn phô tô tài liệu.

4.4. Cần có đánh giá, rút kinh nghiệm sau khi thục hiện 1 kế hoạch. Việc này đôi khi mất thời gian nhưng rất cần thiết để các tập thể, cá nhân phát huy ưu điểm của mình và khắc phục các tồn tại để thực nhiện các kế hoạch tiếp theo tốt hơn. Việc rút kinh nghiệm này có thể đánh máy, chuyển qua email để các tổ rút kinh nghiệm trong phiên họp tổ CM.

4.5. Tăng cường công tác thi đua, khen thưởng để khích lệ, động viên các tập thể, cá nhân hoàn thành tốt, vượt mức kế hoạch để thúc đẩy tinh thần làm việc của GV,NV.

5. Kiến nghị

- Đối với Công ty:

+ Hệ thống công việc của Nhà trường rất lớn (gấp 3-4 lần các trường khác). Rất mong nhận được sự chia sẻ của Công ty trong việc tạo điều kiện về thời gian, CSVC cho CB, GV (trước mắt là các bộ phận cốt cán) về máy tính, đường chuyền internet…

+ Đề nghị có chế độ kiêm nhiệm đặc thù cho bộ phận thư kí, giúp việc cho lãnh đạo nhà trường nhiều cấp học vì khối lượng công việc nhiều và tính đặc thù, phức tạp của 3 cấp (hiện tại TKHĐ tính 2 tiết/tuần).

- Đối với lãnh đạo nhà trường: Đề nghị triển khai kế hoạch tới các tập thể, cá nhân sớm; bán sát kế hoạch, chỉ đạo, đôn đốc các bộ phận thực hiện, đảm bảo đúng thời gian, hiệu quả của kế hoạch; có đánh giá, nhận xét ưu điểm, tồn tại và biện pháp khắc phục sau mỗi một kế hoạch.

- Đối với GV, NV: Khi nhận được kế hoạch hoạt động có liên quan đến bản thân, mỗi đ/c phải tự lập kế hoạch thực hiện nhiệm vụ của mình. Chú ý về yêu cầu của công việc và thời gian hoàn thành. Trong qua trình thực hiện, nếu xuất hiện khó khăn, cần trao đổi và xin ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo để tháo gỡ và hoàn thành tốt công việc của mình theo kế hoạch.

Trên đây là một số ý kiến tham luận của cá nhân tôi trong việc nâng cao hiệu quả thực hiện kế hoạch của nhà trường. Rất mong nhận được ý kiến đóng góp, xây dựng của các đồng nghiệp để hoàn thiện bản tham luận và góp phần thực hiện tốt các kế hoạch, nhiệm vụ của nhà trường.

THAM LUẬN 2

Về vấn đề đổi mới lề lối làm việc, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, quan liêu, phiền hà, sách nhiễu.

Trong những năm qua, công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí luôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong kế hoạch năm học.Bởi vậy, công tác này luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sâu sát của Chi bộ, BGH nhà trường, Lãnh đạo công ty và sự hưởng ứng tích cực của toàn thể CB-GV-NV trong Nhà Trường. Năm học này, để phát huy hơn nữa tinh thần thực hành tiết kiệm, chúng ta tiếp tục củng cố những kết quả đẫ đạt được, đồng thời bổ sung, thay đổi một số lề lối, phương thức lám việc chưa thực sự hiệu quả. Trong pham vi tham luận này, tổ Anh ngữ chúng tôi xin được đưa ra một số ý kiến cụ thể liên quan đến BA lĩnh vưc là: trong hoạt động giảng dạy, trong các hoạt động ngoài giảng dạy, và trong mối quan hệ với nhân dân và phụ huynh học sinh.

Thứ nhất, đối với hoạt đông giảng dạy, việc chấp hành nghiêm chỉnh giờ giấc ra vào lớp, thực hiện giờ giảng hiệu quả, chất lượng là một biểu hiện cao nhất của việc thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng và lãng phí về mặt thởi gian. Tôi nhớ Thầy TLCM đã từng phân tích rất cụ thể chỉ một phút vào muôn hay ra sớm của GV, chỉ một phút GV làm việc không hiệu quả đồng nghĩa với ít nhất là 30, 40 hay 45 phút lãng phí thời gian của từng ấy em HS trong lớp học. Nhận thức được điều này, đội ngũ GV của chúng ta đã có rất nhiều chuyển biến tích cực trong việc đảm bảo sử dụng  các giờ lên lớp một cách hiệu quả nhất. Tuy nhiên, thực tế vẫn còn có một số trường hợp GV vào muộn, ra sớm , hay GV còn để mất thời gian ổn định lớp, mắng học sinh, dạy không theo PPCT, chuẩn bị bài chưa chu đáo, cho HS ngồi đọc sgk-GV làm việc riêng…  biểu hiện này đôi khi vẫn thấy ở cả ba cấp học và cần phải được chấm dứt một cách triệt để  bằng các biện pháp chặt chẽ hơn như là:

 -  Bên cạnh phần ghi chép của thầy trợ lý chuyên môn, quản sinh cần quan sát cả hai khu vực sân trước và sân sau trước giờ vào lớp và ra chơi để ghi lai những trường hợp vi phạm về mặt thời gian của GV. Việc làm này cần được thực hiện nghiêm túc, khách quan hơnvà ban quản sinh phải chịu trách nhiệm trước BGH nhà trường nếu không hoàn thành nhiệm vụ.

-  BGH, TLCM, TTCM khi dự giờ đột xuất cần yêu cầu GV cho đối chiếu bài dạy-giáo án-sổ đầu bài- PPCT để đảm bảo GV thực hiện nghiêm túc việc soạn giảng theo quy chế chuyên môn; và để sát sao hơn nữa chúng ta có thể thông qua GVCN, lựa chọn một số HS có nhận thức và đạo đức tốt để hướng dẫn các em ghi lịch trình các buổi học với các thông tin cần thiết theo yêu cầu của BGH để từ đó có được thông tin thông tin thường xuyên, đầy dủ hơn.            

Thứ hai, trong các hoạt động ngoài lĩnh vực giảng dạy, mặc dù đây không phải là hoạt động chính trong nhà trường, song nếu không được thực hiện một cách bài bản, khoa học sẽ dẫn đến lãng phí rất nhiều, không tiết kiệm được tài nguyên, nhiên liệu và chi phí như: điện, nước, ga, văn phòng phẩm , điện thoại và xăng xe đi lại… Để thực hành tiết kiệm, chúng tôi đề xuất một số biện pháp cụ thể như sau:

- Trước tiên, cần nâng cao hơn nữa ý thức thực hành tiết kiệm của mỗi CB-GV-NV trong nhà trường bằng việc gắn những nội quy, quy định và nhắc nhở ở những vị trí hợp lý .Việc này chúng ta đã thực hiện song hiệu quả chưa cao.  Bởi vậy, mỗi CB-GV-NV chúng ta  cần có sự nhắc nhở lẫn nhau và rút kinh nghiệm với nhau khi chưa thực hiện đúng.

- Tổ nhà ăn và tổ HC-VP cần có các quy định cụ thể về việc thực hành tiết kiệm điện, nước, ga, văn phòng phẩm và các cơ sỏ vật chất khác. Ví dụ: trước khi in văn bản, chúng ta cần xem xét kỹ càng, gửi duyệt bản mềm trước, tránh tình trạng in lại nhiều lần; kiểm tra, bảo dưỡng các thiết bị điện, nước, ga thường xuyên, định kỳ để tránh thất thoát… Cần thực hiện nghiêm túc việc khen thưởng cho những sáng kiến, phát hiện có hiệu quả và hình thức phạt đối với những biểu hiện vi phạm. (VD: khen thưởng BV phát hiện GV các lớp quên không tắt điện, đóng cửa, đồng thời nhắc nhở, phê bình GV..)

- Các đợt nộp học phí công ty nên cho cán bộ kế toán sang thu trực tiếp bên nhà trường, tránh việc GV phải đi lại  nhiều lần, lãng phí thời gian, xăng xe, đồng thời phòng ngừa được rủi ro, thất thoát..

- Một số quy trình thủ tục làm việc nên được thu gọn để tránh phiền hà, mất thời gian. Cụ thể: Việc ký duyệt ban giám hiệu nhà trường danh sách học sinh trước khi nộp các khoản thu cố định như học phí, bán trú, ăn.. nên bỏ. Thay vào đó, văn phòng sẽ chuyển sang công ty bản thống kê tổng hợp về số lượng học sinh và những thay đổi nếu có; Việc giải quyết cho Hs nghỉ giữa buổi học nên được ủy quyền cho GVCN và ban Qsinh (nếu GVCN không có mặt). Nhà trường có thể ban hành mẫu phiếu xin phép để GVCN và BQS hướng dẫn HS thực hiện. Bảo vệ giải quyết cho HS ra khỏi trường trong trường hợp có giấy phép với chữ ký của BQS hoặc GVCN. Cách làm này không chỉ tiết kiệm thời gian, tránh phiền hà mà còn giúp cta thực hiện được 1 trong những mục tiêu của năm học đó là tăng cường vai trò của GVCn trong việc quản lý, giáo dục toàn diện HS như trong bản dự thỏa phương hướng đã nêu.

- Đối với việc họp hành và triển khai các văn bản, kế hoạch: cần ấn định thời gian cho các cuộc họp ( VD: đoàn thể-ngoài giờ lên lớp, tổ CM: chiều T7 tuần 2,3 hàng tháng, hội đồng nhà trường: chiều T7 tuần 4, Chi bộ: chiều T7 tuần 1, Họp liên tich, chủ nhiệm: tiết 5 thứ 3 hoặc thứ 5) và nội dung các cuộc họp nên xúc tích, tránh lan man. Các ý kiến bàn bạc, trao đổi cần ngắn gọn, đi thẳng vào vấn đề để tgian họp không kéo dài. Nội dung các văn bản, kế hoạch cũng như phần theo dõi thực hiện và đánh giá kết quả cần đưa lên trang Web của nhà trường. Đội ngũ CB-GV-NV cần thực hiện nghiêm túc việc kiểm tra thông tin trên trang web nhà trường hàng ngày vào giờ cố định (có thể là 9h và 13h). Việc làm này sẽ mang lại rất nhiều những lợi ích khác nhau như: tiết kiệm thời gian ( viết, đọc, thông báo, họp để triển khai các văn bản, kế hoạch), tiết kiệm chi phí (phô tô , điện thoại….), đảm bảo tính dân chủ, công khai…và quan trọng hơn cả nó giúp tạo ra một cách thức làm việc tự giác, khoa học và hiệu quả hơn.

Thứ ba,  trong các hoạt động  phối hợp với nhân dân và phụ huynh học sinh. Cần tiết kiệm thời gian của chúng ta và của ND cũng như cha mẹ học sinh bằng việc cố định lịch tiếp dân ( thông báo công khai trên trang web và bảng tin của nhà trường) và thực hiện một cách nghiêm túc. (có thể là vào chiều thứ 4 và thứ 6 hàng tuần). Đồng thời, cũng tránh gây phiền hà, sách nhiễu bằng cách làm việc khoa học, hiệu quả, chu đáo, nhiệt tình. Đối với GV khi làm việc với cha mẹ học sinh cần trao đổi một cách thận trọng, đúng mực với thái độ tôn trọng, khéo léo…cần tránh làm mất thời gian của cha mẹ học sinh bằng việc chuẩn bị nội dung trao đổi thật chu đáo và chỉ làm việc với cha mẹ học sinh trong những trường hợp thật cần thiết. Ngoài ra, GV có thể phối hợp với PHHS qua các hình thức khác như gửi thông báo, liên lạc qua điện thoại…

Đồng thời, cũng nên thiết lập một hòm thư điện tử để tiếp nhận những ý kiến phản ảnh, đóng góp, những kiến nghị, đề xuất từ phía nhân dân và PHHS .. từ đó thẩm tra, xác minh, xử lý, trả lời kịp thời các phản ảnh, kiến nghị đồng thời có được những biện pháp điều chỉnh hợp lý.

Trên đây là một số vấn để liên quan đến cải tiến tổ chức và lề lối làm việc chúng tôi đưa ra để đóng góp thêm cho bản dự thảo phương hướng, nhiệm vụ năm học. Tuy nhiên, khi đi vào thực tiễn, các đồng chí CB-GV-NV từ lương tâm trách nhiệm của mỗi cá nhân tự thấy mình chưa làm tốt điểm nào, tự mình sửa chữa như vậy là chúng ta đang thực hiện việc cải tiến lề lối làm việc. Đề nghị mọi CB-GV-NV trong nhà trường chúng ta cùng nâng cao ý thức tự giác của mỗi cá nhân,  quyết tâm thực hiện tốt việc đổi mới lề lối làm việc để hiện tượng lãng phí, tham nhũng, quan liêu, phiền hà, sách nhiễu không còn là vấn đề phải quan tâm.

THAM LUẬN  3

CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN TỐT CÁC PHONG TRÀO THI ĐUA VÀ CÁC CUỘC VẬN ĐỘNG – TẠI HỘI NGHỊ CB – GV – NV - NĂM HỌC 2013 - 2014

 

          Kính thưa các vị đại biểu, kính thưa các đ/c lãnh đạo Công ty và Ban giám hiệu nhà trường, thưa toàn thể các đ/c cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường. Thay mặt tổ Khoa học Xã hội, tôi xin trình bày các biện pháp thực hiện tốt các phong trào thi đua và các cuộc vận động trong năm học 2013 – 2014.

 

          Theo hướng dẫn nhiệm vụ năm học của Bộ GD – ĐT và Sở GD – ĐT Quảng Ninh, một trong những nhiệm vụ trong tâm hàng đầu của các nhà trường trong  năm học 2013 – 2014 là tiếp tục thực hiện có hiệu quả hơn nữa việc "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh"  trong từng công việc cụ thể, phù hợp với vị trí công tác của mỗi thành viên trong đơn vị; cuộc vận động “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo” bằng những nội dung, hình thức thiết thực, hiệu quả, phù hợp điều kiện từng địa phương, từng cơ sở trường học; đưa phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trở thành hoạt động thường xuyên.

 

          Trước hết chúng ta cần thấy được ý nghĩa và tầm quan trọng của 2 phong trào và 1 cuộc vận động đối với ngành giáo dục. Đây là nhiệm vụ hàng đầu, là xương sống xuyên suốt các hoạt động giáo dục trong nhà trường. Riêng phong trào "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" không chỉ được phát động trong ngành giáo dục mà còn được phát động trong nhiều ngành nghề, trong toàn xã hội. Việc thực hiện đầy đủ và hiệu quả các phong trào và cuộc vận động là tiền đề để mỗi nhà trường thực hiện tốt nhiệm vụ năm học.

 

          Để trường TH, THCS, THPT Văn Lang thực hiện có hiệu quả các cuộc vận động và các phong trào thi đua trên, căn cứ vào những kết quả hoạt động đã đạt được từ năm học trước, chúng tôi xin phép đưa ra những giải pháp như sau:

 

          1. Giải pháp chung:

 

- Quán triệt tư tưởng các giáo viên về việc hưởng ứng thực hiện hai phong trào thi đua và một cuộc vận động, xem việc thực hiện các phong trào thi đua và cuộc vận động là một trong những nhiệm vụ chính trị của ngành và đây cũng là một trong những tiêu chí đánh giá, xếp loại giáo viên.

 

- Căn cứ vào 16 quy định về đạo đức nhà giáo, cần triển khai xây dựng chuẩn mực đạo đức người thầy Văn Lang, xây dựng tiêu chí “Trường Văn Lang thân thiện – Học sinh  Văn Lang tích cực”.

 

- Đúc kết tấm gương Hồ Chí Minh thành những giá trị cụ thể, cơ bản phù hợp với  hai đối tượng là cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh để phong trào "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" có sức lan tỏa mạnh mẽ trong nhà trường.

 

          2. Giải pháp cụ thể:

 

a. Đối với phong trào "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh":

 

- Mỗi giáo viên đăng kí vào kế hoạch cá nhân một tấm gương đạo đức mà bản thân có thể học tập và làm theo. Thể hiện kết quả trong bản tự kiểm điểm cuối kì, cuối năm.

 

- Các đoàn thể (Đoàn thanh niên, Công đoàn) tùy vào đặc thù hoạt động, có thể tổ chức các hoạt động, hình thức thi "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh". Ví dụ thi kể chuyện tấm gương Bác Hồ, thi viết “Giáo viên hưởng ứng phong trào Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh",…

 

- Xây dựng các tấm gương điển hình trong việc triển khai thực hiện tốt các cuộc vận động, nhắc nhở các giáo viên thực hiện chưa tốt. Việc nêu gương, làm gương là điều kiện quan trọng để thực hiện các cuộc vận động có hiệu quả.
2. Đối với các cuộc vận động “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”.

 

- Để thực hiện tốt cuộc vận động này, cần xác định nội dung cuộc vận động “Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương về đạo đức, tự học và sáng tạo” chính là sự vận dụng sáng tạo nội dung cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” cho phù hợp với đặc thù của ngành. Đồng thời gắn nội dung thực hiện cuộc vận động với các phong trào thi đua.
- Thể hiện nội dung cuộc vận động trong các hoạt động chuyên môn như:

 

+ Đăng ký các danh hiệu thi đua cá nhân, tập thể, các chỉ tiêu thi đua để không ngừng nâng cao hiệu quả giáo dục.

 

+ Đăng ký sáng kiến kinh nghiệm, đồ dùng dạy học của cá nhân, tổ, nhóm chuyên môn.

 

+ Thể nghiệm phương pháp Bàn tay nặn bột ở khối TH, ở khối THCS, THPT với các môn Lí, Hóa, Sinh.

 

+ Tổ chức 2 đợt thao giảng, hội thi GV Giỏi cấp cơ sở, tham gia dự thi GV Giỏi cấp tỉnh, sinh hoạt chuyên đề tại các tổ chuyên môn tạo điều kiện cho cán bộ, giáo viên trao đổi kinh nghiệm giảng dạy, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.

 

+ Chú trọng việc bồi dưỡng đổi mới phương pháp dạy học, coi trọng việc hướng dẫn tự học, khuyến khích sự chủ động, sáng tạo, tự đánh giá trong quá trình học tập; tăng cường đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình giảng dạy (quy định mỗi GV dạy 1 năm dạy tối thiểu 18 tiết có ứng dụng CNTT); tạo điều kiện cho cán bộ quản lý, giáo viên tham gia học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.

 

+ Bồi dưỡng HS Giỏi, Phụ đạo HS yếu, ôn thi Đại học. Chú trọng công tác mũi nhọn và chất lượng ôn thi Đại học để nâng cao uy tín của nhà trường.

 

+ Tổ chức nghiêm túc các kì thì, đảm bảo kết quả thi phản ánh đúng năng lực học sinh. Từ đó có phương hướng, phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh. Tránh tình trạng học sinh ngồi nhầm lớp.

 

+ Chấp hành đúng quy định về dạy thêm, học thêm theo ý kiến chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ủy ban tỉnh và Sở GD – ĐT.

 

          Những hoạt động chuyên môn trên không chỉ giúp nâng cao chất lượng dạy và học của nhà trường mà còn góp phần giúp cuộc vận động “Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương về đạo đức, tự học và sáng tạo” thực sự đi vào cuộc sống. Mỗi thầy cô giáo Văn Lang thực sự trở thành một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo đối với các em học sinh.

 

          3. Đối với phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”

 

- Đoàn thanh niên phát động phong trào trang trí lớp học sạch đẹp.

 

- Nhà trường tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa để trồng thêm nhiều cây xanh tạo môi trường xanh, sạch, đẹp.

 

- Tăng cường giáo dục kĩ năng sống cho HS thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp, các giờ học KNS vào dịp hè, tích hợp nội dung này trong một số bộ môn KHXH.

 

- Giáo dục lối sống văn hóa cho học sinh cho HS thông qua việc thực hiện bộ Quy tắc ứng xử mà nhà trường đã xây dựng.

 

- Tăng cường giáo dục HS  thông qua các hoạt động ngoại khóa như đi xem phim, tổ chức tham quan dã ngoại trong ngày. Đoàn  Đội tích cực tổ chức các sân chơi lành mạnh, bổ ích như: tiếp tục cuộc thi “Van Lang got ‘s talent ”; tiếp tục các cuộc thi Rung chuông vàng, Hoa Trạng nguyên… ; tổ chức các trò chơi dân gian như hát đồng dao, dân ca, nhảy bao bố, cướp cờ... Các giờ chào cờ đầu tuần dành 1 phần thời gian cho HS phát huy khả năng sáng tạo và năng khiếu của mình.

 

-  Đảm bảo cho học sinh phát huy tính sáng tạo trong các giờ học và các giờ hoạt động ngoại khóa. Để làm được điều này, các thầy cô giáo phải thấm nhuần đổi mới phương pháp dạy học, khuyến khích HS trình bày ý tưởng, chính kiến riêng của mình đồng thời tôn trọng, vận dụng những sáng tạo của HS trong một số hoạt động cụ thể.

 

- Đặc biệt quan tâm đến giáo dục đạo đức của học sinh. Đây là một nội dung quan trọng của phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong trường Văn Lang. Xã hội hiện đại có những mặt trái tác động đến ý thức đạo đức của HS. Hơn nữa HS THPT trường VL lại là những HS tốp 3, đứng sau các trường công lập lớn trên địa bàn TP  như trường Chuyên HL, trường Hòn Gai. Vì thế, chúng ta phải có những giải pháp mềm dẻo để vừa đạt được tiêu chí thân thiện từ những người giáo dục là thầy cô, vừa khuyến khích được yếu tố tích cực từ người được giáo dục là học sinh.

 

Có thể nói, việc thực hiện các phong trào thi đua và các cuộc vận động đã trở thành truyền thống tốt đẹp của ngành giáo dục nói chung và mỗi nhà trường nói riêng. Kết quả thực hiện các phong trào thi đua và các cuộc vận động đã khắc phục những tiêu cực, hạn chế, đồng thời cũng nhanh chóng thực hiện có hiệu quả những mục tiêu, nhiệm vụ chính trị đã đặt ra: đó là mục tiêu chuẩn hóa và trên chuẩn của đội ngũ, đó là chất lượng dạy học, đó là đạo đức và lối sống cao đẹp của nhà giáo ngày càng được xã hội tôn vinh.

 

Vì thế chúng tôi mong rằng những biện pháp chúng tôi nêu ra góp phần thực hiện có hiệu quả các cuộc vận động và các phong trào thi đua của nhà  trường trong năm học 2013 – 2014.

 

Cuối cùng, xin kính chúc các quý vị đại biểu, các thầy cô giáo sức khỏe, hạnh phúc. Chúc hội nghị thành công tốt đẹp.

THAM LUẬN 4

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ÔN ĐỘI TUYỂN HSG VÀ ÔN THI ĐẠI HỌC

  Khái quát, đánh giá chung về thực trạng ôn HSG và ôn thi Đại học  của nhà trường. Một số giải pháp để nâng cao chất lượng. Một số đề xuất với Công ty chủ quản, với BGH và các lực lượng liên quan.

   Cụ thể như sau:

    I, Đánh giá chung về thực trạng: Đồng hành cùng với quá trình xây dựng và phát triển chung của nhà trường Văn Lang, công tác ôn đội tuyển HSG và ôn thi Đại học đã đạt được những thành tích đáng ghi nhận, song để duy trì và phát triển bền vững vẫn cần phải đánh giá đúng mức những thuận lợi và khó khăn, từ đó có những giải pháp và tháo gỡ.

A, Thuận lợi.

Nhìn chung, công tác ôn đội tuyển HSG và ôn thi Đại học buổi 2 có rất nhiều thuận lợi, chẳng hạn như:

Về phía BGH: Luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao, động viên kịp thời của BGH nhà trường.

Đội ngũ GV đã và đang giảng dạy trẻ, nhiệt tình, mẫn cán với công việc, có kiến thức vững vàng, phong thái sư phạm tốt, chủ động học hỏi, tinh thần trách nhiệm cao với HS và công việc được giao.

Nhiều HS thể hiện sự say mê, chăm chỉ khi tham gia các đội tuyển, tạo tâm lí tốt cho các GV ôn luyện.

Tỉ lệ HS thi đỗ Đại học ngày càng được nâng cao qua các năm học,  từ đó làm cho thương hiệu trường Văn Lang ngày càng được khẳng định.

B. Khó khăn.

      Bên cạnh những thuận lợi cơ bản trên, công tác ôn ĐT và ôn thi Đại học  cũng phải đối diện với khá nhiều những khó khăn thách thức.Ví dụ như:

            Thứ nhất, do mô thức đào tạo 2 buổi của nhà trường nên việc ôn luyện HSG chủ yếu diễn ra vào các buổi học thứ 4, thứ 7 đối với THCS thì vào cuối buổi học ( từ 16h35 tới khoảng 18h30’) hoặc vào ngày chủ nhật. Ngoài ra, nhiều buổi thứ 7 , thứ 4 còn vướng vào lịch sinh hoạt chung của nhà trường.

            Thứ hai, đầu vào của trường còn thấp, hạn chế cho việc chọn HS vào đội tuyển.

HS THCS của trường ta rất ít, thường là 1 – 2 lớp/khối, còn với HS THPT có thể xét là HS loại 3 tuyển sinh sau trường chuyên HL, trường cấp 3 Hòn Gai

Thứ ba, do là trường liên cấp nên thời điểm ôn và thi ĐT HSG THCS hay trùng với ĐT THPT đặc biệt như năm học này, HS thi HSG cấp THPT và THCS cùng vào tháng 12. Vì vậy GVBM của một số môn Sử, Địa, Sinh, Hóa có lực lượng mỏng phải rất vất vả để cùng lúc cáng đáng cả 2 ĐT.

            Thứ tư, việc thu hút HS vào ĐT cũng gặp không ít khó khăn đó là: đối với THCS thường tập trung vào 2 môn Văn, Toán ( ngoài ra có thêm môn Anh)   do qui định thi tuyển sinh vào 10, có thể giải thích cho PH, HS theo hướng: ôn ĐT có cơ hội thi vào chuyên nhưng cũng có 1 thực tế là tiềm lực HS THCS trường ta trước hết mới chỉ đặt ra mục tiêu vào trường THPT Hòn gai hay vào chính Văn Lang mà thôi. Còn đối với HS cấp THPT do việc học tập có định hướng và có mục đích cho việc thi Đại học nên việc HS sẵn sàng bỏ 1 buổi học ôn đội tuyển HSG để đi học ôn thi Đại học tại các trung tâm là dễ hiểu.

Thứ năm: đội ngũ GV trẻ nên kinh nghiệm ít, song có những đội tuyển lại phải cáng đáng cùng lúc 2 ĐT của 2 cấp nên việc tiếp cận với cách thức ôn và thi của Phòng GD cũng khó khăn hơn so với GV các trường bạn và việc bố trí hợp lí các buổi dạy gặp không ít khó khăn. Ngoài ra, GV chủ yếu là nữ, đang ở độ tuổi có con nhỏ nên những thời điểm ôn sau tiết 3 buổi chiều hoặc chiều thứ 7, chủ nhật cũng có gây những trở ngại không nhỏ.

Thứ sáu: đối với công tác ôn thi Đại học, số lượng HS trong một lớp nhiều, lại có sự phân hóa về lực học của học sinh nên khó khăn hơn trong việc ôn thi ĐH. Và một vấn đề khá tế nhị nhưng lại là 1 thực tế tác động tới công tác ôn thi Đại học buổi 2. Đó là về vấn đề tài chính thanh toán cho 1 buổi dạy ôn Đại học, chưa được 200.000 đ, thấp với các trường bạn xung quanh.

II. Một số giải pháp

   Xuất phát từ thực trạng trên, bằng những kinh nghiệm ít ỏi của bản thân và tham khảo ý kiến của 1 số GV ôn ĐT và ôn thi Đại học, tôi xin đưa ra 1 số giải pháp như sau:

Giải pháp chung

Dành thời gian trong quỹ thời gian họp tổ, nhóm chuyên môn để học tập, chia sẻ, bàn thảo về các chuyên đề ôn thi Đại học và ôn thi HSG. Nếu theo bản Kế hoạch năm học 2013 – 2014 mà đồng chí hiệu trưởng đã phát biểu thì sẽ có 18 buổi họp tổ CM/ 1 năm). Tôi có thể phân chia một cách sơ bộ như sau:

Thực hiện đúng thời gian tối thiểu theo kế hoạch đã được BGH phê duyệt.

GV của mỗi BM cần phải có tinh thần trách nhiệm, mẫn cán trong công việc, cần linh hoạt các phương pháp, hình thức ôn ĐT như không nhất thiết là gọi HS tập trung học theo các buổi học mà có thể cho HS mượn tư liệu, gợi ý cho HS tự đọc, tự khám phá theo sự hướng dẫn của GV, sưu tầm những BT hay, khó giao cho HS về nhà ( thường xuyên hoặc không thường xuyên).

Nhân mỗi dịp Hội thi GVG, có thể mời mặt giám định viên dành 1 buổi để rèn thêm kĩ năng đồng thời bồi dưỡng thêm cho GV và 1 số HSG, trao đổi những phần bài khó giảng, phần kiến thức khó.

2. Giải pháp riêng.

Đối với ôn thi HSG.

Giao các mảng kiến thức cho từng GV một cách phù hợp. Tiến hành biên soạn bộ tài liệu ôn HSG chung. Biện pháp này nhằm gắn trách nhiệm triệt để hơn đối với mỗi GV đồng thời là một cách để bồi dưỡng CM giữa các GV trong nhóm.

Khi thi xong, ngoài việc đánh giá năng lực HS, còn phải yêu cầu GV chịu trách nhiệm với phần kiến thức tương ứng với bài tập  mà học sinh không làm được hoặc làm mà hiệu quả thấp.

Nhóm chuyên môn tổ chức, đánh giá chung trong nhóm và báo cáo lại lãnh đạo sau khi có kết quả thi.

GV ôn ĐT cần phát huy tốt tính phối hợp với các lực lượng giáo dục như: BGH, GVCN, PHHS, GV ôn ĐT và GV dạy chính khóa trên lớp.

Thu hút HS tham gia ĐT, kịp thời động viên, khích lệ HS cũng như đảm bảo việc HS tham gia ĐT thực hiện đúng tinh thần, trách nhiệm của mình.

GV cần phải biết lôi cuốn sự say mê, yêu thích môn học 1 cách tự nhiên từ phía HS. Ví dụ như có thể trao đổi, trò chuyện với HS 1 cách cởi mở, tạo sự gắn kết tình cảm giữa thầy và trò, thu hút HS tham gia ĐT bằng chính năng lực của người thầy. Hoặc GV có thể kể những câu chuyện gợi trí tò mò tìm hiểu kiến thức bộ môn cho HS như: những câu chuyện LS, những hiểu biết địa lý, vật lí, hóa học…để giải thích những yếu tố TN – XH  xung quanh cuộc sống hàng ngày của  HS, những vận dụng gần gũi của Toán học khi đưa vào cuộc sống…

Đối với công tác ôn thi Đại học:

Trên cơ sở giáo trình đã có:

Đối với lớp chọn: thực hiện đủ thời lượng, mức độ như trong giáo trình. Bên cạnh đó, phải cập nhật các dạng bài mới.

Đối với lớp khác: thực hiện linh hoạt và phù hợp với đối tượng học sinh.

Chú ý đúc rút kinh nghiệm qua mỗi lớp dạy, mỗi chủ đề để giáo trình ngày càng hoàn chỉnh hơn.

Bài tập cho về nhà: phù hợp với từng đối tượng HS ( lực học, khối thi ĐH của HS) tránh lãng phí thời gian cho HS khá giỏi phải làm bài tập dễ, ngược lại tránh mất thời gian cho HS kém phải suy nghĩ bài tập khó hoặc nản chí, hoang mang. Kiểm tra bài tập đã giao cho HS về nhà, đánh giá thường xuyên để HS rút kinh nghiệm.

Trước khi HS làm hồ sơ thi ĐH, GVCN có thể rà soát việc lựa chon các trường ĐH của HS để có những định hướng và làm công tác tư vấn hướng nghiệp cho HS.

III. Một số đề xuất, kiến nghị.

Với Công ty chủ quản: có thể xem xét lại chế độ ôn ĐT, và dạy học buổi 2 một cách thỏa đáng hơn nữa để động viên tinh thần của GV.

Với BGH nhà trường:

Mời GV trường Chuyên, trường Trọng Điểm bồi dưỡng cho GV và HS một vài chuyên đề quan trọng trong một vài môn Toán, Lý, Hóa, Sinh với sự đồng tình của công ty về mặt tài chính.

Mua bộ đề thi HSG, Đại học của trường chuyên, trường Trọng Điểm để giáo viên tham khảo.

BGH có thể đề xuất với Phòng GD – ĐT và sở GD & ĐT định hướng phạm vi kiến thức ôn ĐT chung để tạo thuận lợi cho GV, hoặc đề xuất cho GV Văn Lang được tham gia vào các hoạt động như đi chấm thi HSG như đã có ở một số bộ môn THPT  để có thể học hỏi kinh nghiệm.

Những đ/c trong BGH có cùng chuyên môn ngoài việc chỉ đạo và dẫn dắt đội tuyển có thể tham một số buổi  dạy cuối để cung cấp thêm kinh nghiệm và tiếp thêm lòng quyết tâm và cố gắng đối với thầy và trò đội tuyển.

Với GV tham gia giảng dạy các bộ môn:

Tạo điều kiện thuận lợi hơn cho những HS tham gia các ĐT.

Bản tham luận trên đây, chắc chắn còn nhiều thiếu sót. Tôi rất mong nhận được sự chỉ đạo BGH nhà trường, sự tham góp từ phía các đồng nghiệp để bản tham luận được hoàn thiện hơn.

Tôi xin chân thành cảm ơn HN đã lắng nghe. Chúc HN của chúng ta hôm nay thành công rực rỡ.

 

 

Lần cập nhật cuối ( Thứ ba, 29 Tháng 10 2013 16:09 )  

Liên kết Website